Thuật ngữ kỹ thuật số trong hợp tác quốc tế


Việc các hiệp định thương mại ở Châu Á – Thái Bình Dương bao gồm nhiều điều khoản thương mại kỹ thuật số đã trở nên phổ biến hơn. Để hiểu các đặc điểm nổi bật của những cách sắp xếp này, sẽ rất hữu ích nếu bạn phác thảo các đặc điểm chính cơ bản của chúng. Làm như vậy cũng cho thấy các hiệp định thương mại kỹ thuật số có thể đi đến đâu hoặc cần phải đi đến đâu.

Kể từ năm 2000, tất cả các hiệp định thương mại tự do (FTA) đều có chương về thương mại điện tử hoặc thương mại kỹ thuật số với sự tham gia của các nước chủ chốt trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc và Trung Quốc. Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, New Zealand, Singapore, Việt Nam và Malaysia. Nó cũng bao gồm các FTA chính trong khu vực – Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), Hiệp định Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Mỹ – Mexico – Canada và Hiệp định Kinh tế và Thương mại Toàn diện EU – Canada ( CETA) – cũng như hai hiệp định thương mại kỹ thuật số độc lập, Hiệp định Đối tác Kinh tế Kỹ thuật số (DEPA) với Singapore, New Zealand, Chile và Hiệp định Kinh tế Kỹ thuật số (SADEA). Sử dụng CPTPP làm cơ sở, các điều khoản thương mại kỹ thuật số trong các hiệp định thương mại này có thể được nhóm thành bốn loại.

Tốc độ phát triển kỹ thuật số ở Châu Á – Thái Bình Dương rất nhanh.

Thứ nhất, có sáu điều khoản được thiết kế để tạo thuận lợi cho thương mại kỹ thuật số, bao gồm xóa bỏ thuế hải quan đối với truyền dữ liệu điện tử, không phân biệt đối xử đối với sản phẩm kỹ thuật số, khuôn khổ giao dịch điện tử trong nước, xác thực điện tử, chữ ký điện tử và các điều khoản giao dịch không cần giấy tờ. Các điều khoản này nhằm mở rộng và điều chỉnh môi trường pháp lý để cho phép thương mại kỹ thuật số hoạt động.

Thứ hai, có 5 điều khoản giúp giảm gánh nặng thương mại và quy định đối với các nhà cung cấp dịch vụ kỹ thuật số thương mại, bao gồm quyền truy cập và sử dụng Internet cho thương mại điện tử, luồng dữ liệu tự do, cấm các yêu cầu bản địa hóa dữ liệu, cấm cưỡng bức chuyển giao công khai mã nguồn và dữ liệu của chính phủ. Bằng cách loại bỏ những trở ngại này, các dịch vụ kỹ thuật số sẽ có thể lưu thông tự do hơn giữa các quốc gia.

Thứ ba, 3 điều khoản bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bao gồm bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, quyền riêng tư, bảo vệ thông tin cá nhân và bảo vệ trước các tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn (tin nhắn rác). Bằng cách giải quyết các mối quan tâm chính của người tiêu dùng, những điều khoản này sẽ giúp tăng niềm tin của người tiêu dùng vào thương mại dịch vụ kỹ thuật số và thúc đẩy tỷ lệ chấp nhận dịch vụ kỹ thuật số.

Loại cuối cùng bao gồm bốn điều khoản duy trì quyền tự chủ về quy định của các chính phủ, chẳng hạn như các điều khoản về an ninh mạng, ngoại lệ và hợp tác. Những quy định này giúp các chính phủ dành không gian cần thiết để giải quyết các mục tiêu chính sách xã hội khác nhau và đảm bảo các yêu cầu về an toàn và an ninh quốc gia.

Loại điều khoản đầu tiên là phổ biến nhất với hơn 3/4 hiệp định FTA, trong đó có ít nhất hai hiệp định thuộc loại này. Các quy định này nhằm thiết lập cơ sở hạ tầng cần thiết hoặc liên kết quy định để tạo thuận lợi cho thương mại kỹ thuật số, nhưng không quy định cách tiếp cận cụ thể về các vấn đề nhạy cảm. Như vậy, các điều khoản này ít vấp phải sự phản đối nhất của các chính phủ.

Loại cung cấp thứ hai tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại dịch vụ kỹ thuật số bằng cách loại bỏ hoặc cố gắng giảm thiểu các rào cản quy định cản trở dòng chảy của thương mại kỹ thuật số. Cũng như các hiệp định thương mại thế hệ trước, người ta thường cho rằng đối tượng hưởng lợi chính của các biện pháp này sẽ là các nhà cung cấp dịch vụ ở nước ngoài từ các nền kinh tế phát triển lớn hơn. Do đó, nhiều nước đang phát triển miễn cưỡng đồng ý với các điều khoản này. Vấn đề không chỉ là kinh tế vì nó một lần nữa liên quan đến sự thiếu năng lực của các cơ quan quản lý.

Loại cung cấp thứ ba không trực tiếp đóng góp vào sự tăng trưởng của thương mại trong các dịch vụ kỹ thuật số, nhưng đóng góp gián tiếp bằng cách thúc đẩy một môi trường đáng tin cậy làm giảm bớt mối quan tâm của người tiêu dùng. Tuy nhiên, các nước đang phát triển thường thiếu các luật và quy định trong nước có thể giải quyết những vấn đề này.

Loại cung cấp thứ tư thúc đẩy quyền lực của chính phủ đối với các công ty kỹ thuật số. Những quy định như vậy cung cấp cho chính phủ không gian điều động cần thiết để kiểm soát các dịch vụ kỹ thuật số. Điều này rất quan trọng đối với nhiều nước đang phát triển vì phần lớn thương mại dịch vụ kỹ thuật số được cung cấp bởi các nhà cung cấp nước ngoài. Đó là lý do tại sao các điều khoản này rất phổ biến, với hơn 70% các FTA được khảo sát bao gồm ít nhất một điều khoản trong danh mục này.

Để thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực này, các nước đang phát triển ở châu Á sẽ cần tăng cường các điều khoản trong nhóm thứ hai và thứ ba. Với sự phức tạp của thương mại kỹ thuật số, sẽ không thực tế nếu cho rằng chỉ bao gồm các điều khoản này sẽ thúc đẩy thương mại. Thay vào đó, điều này cần được thực hiện cùng với việc xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại kỹ thuật số và môi trường pháp lý nhằm cân bằng giữa kiểm soát rủi ro và tự do hóa thị trường.

Sơn Hà (Tổng hợp)


Leave a Reply

Your email address will not be published.