Chính phủ phải làm gì để có thể ‘lên mây’?


Điện toán đám mây là mô hình trong đó người dùng mua tài nguyên công nghệ thông tin (CNTT) dưới dạng dịch vụ và thanh toán ở bất cứ đâu họ đến. Trong những năm gần đây, xu hướng này đã nhận được sự quan tâm của cả khu vực nhà nước và tư nhân. Giống như các tiện ích như điện và nước, đám mây cho phép người dùng truy cập tài nguyên từ mọi nơi, mọi lúc, giám sát việc sử dụng và mở rộng dung lượng mà không cần đầu tư một khoản tiền lớn vào phần cứng. phần cứng hoặc phần mềm. Kết quả là đám mây cải thiện hiệu quả CNTT, tiết kiệm khoảng 20-30% ngân sách.

Các chính phủ trên khắp thế giới đã nhận ra những lợi ích tiềm năng của đám mây trong việc chuyển đổi cách thức đầu tư, triển khai và truy cập tài nguyên CNTT. Chính sách “Cloud First” của Hoa Kỳ yêu cầu tất cả các cơ quan liên bang phải tích hợp ít nhất 3 dịch vụ vào đám mây. Chiến lược điện toán đám mây liên bang do Nhà Trắng ban hành năm 2011 ước tính rằng 20 tỷ USD, hoặc một phần tư chi tiêu cho CNTT của quốc gia, có thể được phân bổ lại cho các giải pháp đám mây. Tại châu Âu, cựu Phó Chủ tịch Ủy ban châu Âu nêu rõ, khu vực này phải chủ động với đám mây, không dừng lại ở mức độ “thân thiện”. Khu vực công châu Á cũng đang ngày càng đón nhận điện toán đám mây. Ví dụ, Ấn Độ tìm cách sử dụng công nghệ này để cung cấp các dịch vụ công trực tuyến.

Với các chiến lược đã vạch ra, cơ quan chính phủ phải lựa chọn những thành phần nào để đưa lên đám mây, và trong từng trường hợp, phải xác định mô hình triển khai và dịch vụ đám mây phù hợp. Họ cũng phải tạo ra một quy trình lập ngân sách linh hoạt hơn hỗ trợ các danh mục đầu tư liên quan đến đám mây và phải có tư duy mới để nhận ra toàn bộ lợi ích của điện toán đám mây.

Chọn mô hình dịch vụ

Đối mặt với hệ thống CNTT hiện tại và việc cân nhắc chuyển công việc lên đám mây, lựa chọn mô hình nào, nhiều Giám đốc CNTT (CIO) băn khoăn không biết nên bắt đầu từ đâu. Không có một câu trả lời chính xác cho tất cả mọi người. Mô hình dịch vụ thích hợp dựa trên các yêu cầu cụ thể của từng công việc (khối lượng công việc) trong tổ chức, chẳng hạn như quản lý tài chính hoặc quản lý nguồn nhân lực.

Thay vì xem xét chi tiết hàng nghìn mục, một tổ chức nên nhóm chúng thành 30 đến 50 danh mục khác nhau. Ví dụ: cộng tác và nhắn tin là một khối lượng công việc bao gồm tất cả các chức năng liên quan đến email, lịch, nhắn tin, không gian làm việc chung. Bước tiếp theo là đánh giá hiệu suất của giải pháp hiện tại của từng khối lượng công việc và liệu giải pháp đó có đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai hay không. Ví dụ, giải pháp có ổn định hàng ngày không, có dễ thay đổi theo yêu cầu mới không, có thể mở rộng quy mô nhanh chóng để giải quyết nhu cầu cao bất thường và người dùng cuối có hài lòng không? Khối lượng công việc đạt điểm thấp là những ứng cử viên tốt nhất để chuyển sang đám mây.

Sau đó, tổ chức phải xác định mô hình dịch vụ thích hợp cho từng khối lượng công việc: IaaS, PaaS hoặc SaaS. Nếu một tổ chức ưu tiên tốc độ triển khai và tính linh hoạt hơn khả năng tùy chỉnh, họ nên chọn SaaS (phần mềm dưới dạng dịch vụ). Đối với những thứ không thể chuyển đến SaaS, các tổ chức có thể tìm đến PaaS (cho thuê nền tảng) hoặc IaaS (cho thuê cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh).

Chọn phương pháp triển khai

Khi đã chọn đúng mô hình, tổ chức phải xác định việc triển khai phù hợp cho từng khối lượng công việc (công cộng, riêng tư, đám mây lai). Việc triển khai về cơ bản dựa trên các yêu cầu liên quan đến bảo mật và khả năng quản lý CNTT. Các nhà phân tích cho rằng những lo ngại liên quan đến hai yếu tố này là nguyên nhân chính gây ra sự chậm trễ trong việc chấp nhận đám mây, ngay cả khi có dấu hiệu chuyển sang đám mây.

Một đám mây riêng được vận hành bởi một tổ chức duy nhất. Họ có thể là chính tổ chức hoặc do một bên thứ ba quản lý. Đám mây công cộng được mở cho công chúng hoặc một tổ chức lớn trong ngành, được sở hữu và quản lý bởi một nhà cung cấp dịch vụ đám mây. Đám mây lai là sự kết hợp giữa hai mô hình triển khai front-end. Một loại khác là đám mây cộng đồng, bao gồm cơ sở hạ tầng được chia sẻ giữa một số tổ chức và hỗ trợ một nhóm người dùng cụ thể. Chúng có thể được quản lý bởi một tổ chức hoặc bên thứ ba.

Trên thực tế, trong nhiều trường hợp, đám mây riêng sẽ an toàn và dễ quản lý hơn hệ thống CNTT khu vực công hiện tại vì các tổ chức có thể phát triển các tính năng quản lý và bảo mật ngay từ đầu. thay vì thêm chúng vào hệ thống hiện có.

Linh hoạt trong ngân sách và nguồn vốn

Các cơ quan công quyền phải đưa ra lựa chọn về chiến lược điện toán đám mây của họ mặc dù phải đối mặt với các chu kỳ tài trợ và ngân sách cứng nhắc. Những người ra quyết định phải bảo toàn các khoản tài trợ trước nhiều năm, hạn chế khả năng bị chuyển hướng sang các kế hoạch khác. Trong trường hợp ngân sách được phân bổ cho các dự án riêng lẻ hơn là các tổ chức hoặc bộ phận, thì rất khó để đầu tư vào các nền tảng hoặc kiến ​​trúc CNTT mới để giảm chi phí hoạt động cho các dự án trong tương lai.

Trong mỗi kế hoạch áp dụng đám mây, mỗi tổ chức phải tìm ra những cách sáng tạo để xử lý các hạn chế ngân sách hiện tại. Ví dụ: các yêu cầu về kinh phí cho việc triển khai CNTT quy mô lớn có thể bao gồm chi phí triển khai đám mây riêng cũng như chi phí của các dự án nhỏ hơn sẽ tận dụng lợi thế của đám mây. Các tổ chức có thể cân nhắc làm việc với các nhà sản xuất và nhà cung cấp dịch vụ CNTT về các vấn đề tài trợ, giúp giảm chi phí cần thiết để chuyển dịch vụ công lên đám mây.

Chuyển sang đám mây đòi hỏi sự đồng thuận cao trong chính phủ và sự hợp tác chặt chẽ giữa các CIO, các nhà lãnh đạo tài chính và các nhà sản xuất CNTT. Các CIO khu vực công nên tận dụng cơ hội để làm mới mối quan hệ với các đối tác sản xuất, theo đuổi các thỏa thuận với các nhà cung cấp mới để hỗ trợ mô hình đám mây. Trong khi đó, các cơ quan lập ngân sách nên phối hợp và điều phối quá trình chuyển đổi sang đám mây, thu thập các yêu cầu và nhu cầu từ các cơ quan có thẩm quyền và làm việc với nhà sản xuất CNTT để dẫn đầu quá trình chuyển đổi. phát triển các giải pháp.

Tư duy mới để nắm lấy đám mây

Về khía cạnh kỹ thuật khi chuyển từ CNTT truyền thống sang đám mây, nhân viên CNTT không cần phải mua phần cứng và phần mềm hoặc cài đặt, cấu hình và kiểm tra các hệ điều hành và ứng dụng nữa. Thay vào đó, họ chỉ cần chọn cấu hình phù hợp nhất từ ​​danh sách các dịch vụ. Do đó, các kỹ năng như cấu hình phần mềm, quản trị hệ thống CNTT không còn được ưu tiên bằng kỹ năng quản trị hợp đồng, quản lý hiệu suất …

Chuyển sang đám mây không chỉ đòi hỏi các kỹ năng mới mà còn mở ra một cách thức mới để quản trị, triển khai nhân viên CNTT và các quy trình vận hành. Điện toán đám mây tập trung vào việc tận dụng các dịch vụ CNTT. Thay đổi tư duy và hành vi từ nhấn mạnh quyền sở hữu tài sản sang nhấn mạnh tối ưu hóa dịch vụ là không hề nhỏ và đòi hỏi một cách tiếp cận có hệ thống, bao gồm đào tạo, khuyến khích và mô hình hóa.

Nói tóm lại, khi chuyển sang đám mây, các tổ chức khu vực công sẽ có thể giải phóng chi phí CNTT để tái đầu tư vào các hoạt động khác hoặc các mục tiêu quốc gia. Với các hệ thống nhanh hơn và thời gian triển khai ngắn hơn, chúng sẽ cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân, cũng như phục vụ tốt hơn cho hoạt động của chính phủ. Tuy nhiên, để đạt được những lợi ích to lớn này, cần phải giải quyết nhiều thách thức nêu trên.

Du Lam


Leave a Reply

Your email address will not be published.